SINH LÝ VÙNG ÂM HỘ ÂM ĐẠO

Âm đạo là một ống cơ trơn nối âm hộ đến cổ tử cung, nằm giữa niệu đạo, bàng quang phía trước và trực tràng phía sau. Âm đạo gồm có các lớp niêm mạc, cơ trơn (cơ vòng và cơ dọc), mạch máu và thần kinh. Niêm mạc âm đạo là biểu mô  rất nhạy cảm với nội tiết tố sinh dục nữ, estrogen. Trong lứa tuổi sinh đẻ niêm mạc âm đạo rất dày (trên 10 lớp tế bào), xếp nếp và đàn hồi. Dưới ảnh hưởng của estrogen tầng tế bào trung gian và tế bào bề mặt chứa glycogen của niêm mạc âm đạo phát triển, dày lên. Những vi trùng trường trú trong âm đạo – Lactobacillus sp – chuyển hóa glycogen thành acid lactic làm cho môi trường âm đạo có pH acid (3,8 – 4,5). Hơn nữa âm đạo thường hơi ẩm do có các dịch tiết của tử cung, cổ tử cung và các tuyến tiết nhầy. Sự tiết dịch này cũng phụ thuộc vào nội tiết tố sinh dục.

Sự thật cơ quan sinh dục ngoài như âm hộ, âm đạo là vùng thường bị xâm nhập một cách sinh lý do gần với hậu môn, nơi có rất nhiều loại vi trùng gây bệnh ở da và ruột khu trú. Trong 1ml dịch âm đạo của một người phụ nữ bình thường có khoảng 108 – 109 vi trùng, nhưng chỉ có ít tác nhân gây bệnh có thể gây ra nhiễm trùng, nhờ tác dụng bảo vệ của niêm mạc âm đạo và chủng vi trùng thường trú Lactobacillus sp.
Ở phụ nữ trước tuổi dậy thì và sau mãn kinh do tình trạng thiếu nội tiết tố estrogen nên niêm mạc âm đạo mỏng dễ tổn thương, pH âm đạo trở nên kiềm và rất dễ bị viêm âm đạo.
Những thói quen không tốt trong việc vệ sinh vùng âm hộ âm đạo như thụt rửa âm đạo thường xuyên với dung dịch sát khuẩn, tự ý đặt thuốc âm đạo khi có huyết trắng làm phá hủy phổ vi khuẩn thường trú. Khi đó môi trường âm đạo bị kiềm tạo điều kiện thuận lợi cho các vi trùng gây bệnh phát triển và những động tác này cũng dễ làm tổn thương niêm mạc âm đạo.
 
Hình 1: Tương quan cơ quan sinh dục với các cơ quan lân cận
 
 
 
VIÊM ÂM ĐẠO
 
Viêm âm đạo với triệu chứng chính là huyết trắng (khí hư) là bệnh lý phụ khoa phổ biến nhất ở phụ nữ. Tuy nhiên chúng ta cũng cần phân biệt giữa huyết trắng sinh lý và bệnh lý.
Đặc điểmSinh lý (bình thường)Bệnh lý
LượngÍtNhiều
Thời điểmTăng giữa chu kỳ kinhLuôn luôn nhiều
MàuTrắng, trongTrắng đục, vàng, xanh
MùiKhông mùiHôi, tanh, chua
Gây khó chịuKhông gây khó chịuNgứa, rát

Viêm âm đạo, đặc biệt là do vi khuẩn luôn luôn phải điều trị bởi vì nó làm tăng nguy cơ viêm nhiễm tử cung, phần phụ, vùng chậu có thể dẫn đến những hậu quả xa hơn như sảy thai, thai ngoài tử cung, vô sinh,…
Viêm âm đạo ở những phụ nữ có thai có thể làm tăng tỷ lệ bệnh suất và tử suất của mẹ và con do: ối vỡ non, sanh non, nhiễm trùng ối, viêm nội mạc tử cung trong thời gian hậu sản. Khi sanh ngả âm đạo nếu tình trạng viêm âm đạo không đựơc điều trị có thể gây nhiễm trùng sơ sinh như nhiễm trùng huyết, viêm phổi,…
Người phụ nữ dễ bị viêm âm đạo khi:

– pH âm đạo thay đổi (bình thường 3,8 – 4,2) do thụt rửa âm đạo hay thay đổi nội tiết đặc biệt khi mang thai.

– Niêm mạc âm đạo không nguyên vẹn do chấn thương

– Có sự xâm nhập một lượng lớn vi trùng gây bệnh (vi trùng, vi nấm, ký sinh trùng)

PHÒNG NGỪA VIÊM ÂM ĐẠO
Môi trường âm đạo bình thường đã có cơ chế bảo vệ chống lại những viêm nhiễm thông thường, do đó để phòng ngừa viêm âm đạo cần phải giữ môi trường sinh lý ấy:
–          Giữ vệ sinh vùng âm hộ âm đạo đúng cách:
o   Lau khô vùng âm hộ sau khi đi vệ sinh
o   Khi rửa chỉ cần rửa bên ngoài, tránh thói quen thụt rữa trong âm đạo. Sau khi rửa phải lau khô
o   Tránh để vùng âm hộ ẩm ướt như mồ hôi, thường xuyên ngâm mình trong nước hay rửa nước mà không lau khô
o   Mặc quần áo thoáng mát
–          Không tự đặt thuốc âm đạo bừa bãi nhằm tôn trọng môi trường vi khuẩn bình thường trong âm đạo. Khi thấy có huyết trắng bất thường phải đi khám chuyên khoa để được chẩn đoán nguyên nhân và điều trị cụ thể đúng theo nguyên nhân.
–         Khi quan hệ có nguy cơ bị các bệnh lây truyền qua đường tình dục phải dùng bao cao su.
 
Tác giả bài viết: Ths Bs Lê Văn Hiền